
Chu Giai-Kinh Phap Cu-Buddhaghosa-Truong lao Phap Minh - Sách nói Miễn phí
Tác giả:
Ngôn ngữ: Vietnamese
Thể loại:
1 / 129DhA_000-Lời mở đầu
- 1. DhA_000-Lời mở đầu
- 2. DhA_001-Tích trưởng lão Cakkhupala-
- 3. DhA_002-Tích cậu kim hoàn Matthakundali
- 4. DhA_003-004 Tích trưởng lão Tissa
- 5. DhA_005-Tích người sanh làm nữ dạ xoa
- 6. DhA_006-Giải 1-2-3-4-5 & Buddhaghosa...]
- 7. DhA_006-Tích Các tỳ kheo ở Kosambi
- 8. DhA_007+008 Tích Tiểu Hắc & Đại Hắc
- 9. DhA_009-010-Tích Devadatta được y quý
- 10. DhA_011-012-Tích ông Sanjaya không theo Phật
- 11. DhA_013-014-Tích đại đức Nanda
- 12. DhA_015-Tích đồ tể Cunda
- 13. DhA_016-Tích Thiện nam Dhammika
- 14. DhA_017-Tích Devadatta bị đất rút
- 15. DhA_018-Tích Sumanadevi- con gái ông Cấp Cô Độc
- 16. DhA_019-20-Tích Thiền Sư và Pháp sư
- 17. DhA_021-22-23-Tích Hoàng hậu Samavati
- 18. DhA_024-Tích phú hộ Kumbhaghosaka
- 19. DhA_025-Tích trưởng lão Culapanthaka
- 20. DhA_026-27-28-29-Tích lễ hội người ngu-Tích ngài Kassapa-Tích 2 Tỳ kheo bạn
- 21. DhA_030-Tích vua trời Sakka
- 22. DhA_031-32-Tích vị Tỳ kheo quán lửa- Tích đại đức Tissa
- 23. DhA_033-34-Tích trưởng lão Meghiya
- 24. DhA_035-Tích vị tỳ khưu ở Thuỷ Lưu thôn
- 25. DhA_036-37-Tích tỳ khưu bất mãn -Tích đại đức Hộ Tăng Điệt
- 26. DhA_038-39-Tích đại đức Phục Tâm
- 27. DhA_040-41-42-Tích các tỳ kheo…-Tích ngài Tissa thúi thây- Tích Nanda chủ trại bò
- 28. DhA_043-Tích đại đức Soreyya
- 29. DhA_044-45-46-Tích 500 Tỳ kheo luận địa đại-Tích vị sư quán bào ảnh
- 30. DhA_047-Tích vua Vidudabha
- 31. DhA_048-49-Tích nàng Sự Phụ-Tích bá hộ Macchariya
- 32. DhA_050-51-52-Tích Tu sĩ ngoại đạo Patika-Tích thiện nam Chattapani
- 33. DhA_053-Tích bà đại thí chủ Visakha
- 34. DhA_054-55-56-57-Tích ngài Ananda vấn đạo- Tích Ngài Mahakassapa-Tích ngài Godhika viên tịch
- 35. DhA_058-59-Tích ông Oán Trách Thí
- 36. DhA_060-Tích trai nghèo có vợ đẹp
- 37. DhA_061-62-63-Tích đệ tử ngài MahaKassapa- T.trưởng giả Anan-T.Người móc túi
- 38. DhA_064-65-66-67- T. Đại đức Udayi- T.nhóm tỳ kheo Bạt Đề- T. Ông Thiện Giác cùi- T. Nông phu mắc nạn
- 39. DhA_068-69-Tích ông bán hoa Sumana-Tích nữ thánh Uppalavanna
- 40. DhA_070-Tích đạo sĩ loã thể Jambuka
- 41. DhA_071-72-Tích ngạ quỷ rắn-Tích ngạ quỷ bị đập đầu
- 42. DhA_073-74-Tích đại đức Suddhamma
- 43. DhA_075-Tích đại đức Tissa ở rừng
- 44. DhA_076-77-78-Tích ngài Radha-Tích ác tăng-Tích Ngài Channa
- 45. DhA_079-Tích ngài Mahakappina
- 46. DhA_080-Tích Sadi Pandita
- 47. DhA_081-82-83-Tích ngài Bạt Đà Lùn- Tích mẹ Kana- Tích 500 tỳ khưu
- 48. DhA_084-85-86-Tích đại đức hợp Pháp- Tích nghe thuyết pháp
- 49. DhA_087-88-89-Tích khách Tăng
- 50. DhA_090-91-Tích ngự y Jivaka- Tích ngài Mahakassapa bị chê
- 51. DhA_092-93-Tích ngài Belatthasisa- Tích ngài Anuruddha
- 52. DhA_094-95-Tích ngài Đại Ca Chiên Diên-Tích ngài Xá Lợi Phất bị vu oan
- 53. DhA_096-97-Tích ngài Tissa ở Kosambi- Tích ngài Xá Lợi Phất tự tin
- 54. DhA_098-Tích ngài Revata ở rừng keo
- 55. DhA_099-100-101-Tích ghẹo thiền sư-Tích đao phủ-Tích Bahiyadarucirya
- 56. DhA_102-103-Tích Tỳ kheo ni tóc quăn
- 57. DhA_104-105-106-Tích hỏi pháp vô ích- Tích Cậu ngài Xá Lợi Phất
- 58. DhA_107-108-109-Tích cháu ngài Xá Lợi Phất- T. bạn ngài Xá Lợi Phất-T.cậu bé ích thọ
- 59. DhA_110-Tích sadi Sankicca
- 60. DhA_111-112-T.Ngài Kiều Trần Như Gốc Cây- T. Ngài Xà Nô
- 61. DhA_113-Tích nàng Patacara đắc A la hán
- 62. DhA_114-115-T Nàng Kisāgotamī đắc A la hán Tnàng Bahuputtikā đắc A la hán
- 63. DhA_116-117-118-T. Bà la môn 1 áo- T. Ngài Seyyasaka-T.Thiên nữ Cốm Rang
- 64. DhA_119-120-Tích Ông Cấp Cô Độc đuổi tiên nữ
- 65. DhA_121-122-T. Tỳ kheo khinh giới nhỏ-T. Bá hộ Chân Mèo
- 66. DhA_123-124-T.Phú thương tránh hiểm-T.Thợ săn Kê Hữu
- 67. DhA_125-126-T.Thợ săn gặp sư-T. Ngài Tissa và thợ ngọc
- 68. DhA_127-128-T. Ba nhóm tỳ kheo-T. Vua Thiện Giác bị đất rút
- 69. DhA_129-130-131-132-T.Lục sư hành hung-T.Lục sư đe doạ-T. Lũ Trẻ đập rắn
- 70. DhA_133-134-Tích trưởng lão Kondadhana
- 71. DhA_135-136-T. Bát quan trai của phụ nữ- T. Ngạ quỷ mình trăn
- 72. DhA_137-138-139-140-T.Ngài Mục Kiền Liên Niết Bàn
- 73. DhA_141-Tích Tỳ kheo nhiều vật dụng
- 74. DhA_142-143-144-Tích đại thần Santati-Tích Ngài Khố rách
- 75. DhA_145-Tích Sadi SuKha
- 76. DhA_146-147-Tích bạn bà Visakha say- Tích Nàng Sirima
- 77. DhA_148-149-150-T.ngài Uttara bị té- T.Nhóm tăng thượng mạn-T. Tỳ kheo ni Sắc Nan Đà
- 78. DhA_151-152-Tích hoàng hậu Malika thăng hà- Tích ngài Loludayi lẩn thẩn
- 79. DhA_153-154-155-156-Tích Phật thành đạo-Tích đại phú phá sản
- 80. DhA_157-158-Tích Bồ Đề Vương tử-Tích Thích tử Upananda
- 81. DhA_159-160-Tích Ngài Đề Xá tinh tấn Thiền-Tích Mẹ ngài Ka Diếp Đồng Tử
- 82. DhA_161-162-163-T. Thiện nam Maha Kala-T. Devadatta gây tội ác-Devadatta chia rẽ tăng
- 83. DhA_164-165-166-Tích Ngài Kala-Tích thiện nam Tiểu Kala- T.ngài Tự lợi
- 84. DhA_167-168-169-170- Vị tỳ khưu trẻ- Vua Tịnh Phạn- chư Tăng tu thiền quán
- 85. DhA_171-172-173- Hoàng tử Abhaya-Ngài Sammajjana- Ngài Angulimala
- 86. DhA_174 -175- Con gái thợ dệt-Ba mươi vị tỳ khưu
- 87. DhA_176-177- Nàng Cinca-Đại thí vô song
- 88. DhA_178-179-180- Con ông Cấp Cô Độc- Con gái ma vương
- 89. DhA_181- Phật hoá thần thông nhiếp phục ngoại đạo
- 90. DhA_182- Long vương Erakapatta
- 91. DhA_183-184-185-186-187- Câu hỏi ngài Ananda- Vị Tỳ kheo không hoan hỉ
- 92. DhA_188-189-190-191-192- Quốc sư Aggidata
- 93. DhA_193-194-195-196- Câu hỏi Ngài Ananda- Chuyện chư tỳ khưu- Tháp Phật Kassapa
- 94. DhA_197-198-199-200-201- Tranh giành nước- Ma vương trêu Phật- Vua Kosala bại trận
- 95. DhA_202-đến-205- Thiếu nữ gia giáo- Được cơm Phật- Vua Pasenadi bớt ăn- Cúng dường cao thượng
- 96. DhA_206-207-208- Đế Thích chăm sóc Phật
- 97. DhA_209-210-211- Một gia đình cha-mẹ-con xuất gia
- 98. DhA_212-213-214- Gia trưởng khóc con- Bà Visakha khóc cháu- các Licchavi giành kỹ nữ
- 99. DhA_215-216-217- Công tử Anittagandha.Bà la môn thất hứa.Dâng bánh cho ngài Kassapa
- 100. DhA_218-219-220- Đại đức chứng a na hàm. Nandya về trời
- 101. DhA_221-221- Thích nữ Rohini.Tỳ khưu đốn cây rừng
- 102. DhA_223- Tín nữ Uttara
- 103. DhA_224-225-226- Ngài Mục Kiền Liên vấn đạo. Chư Tăng vấn đạo. Nữ tỳ Punna
- 104. DhA_227-234- Thiện nam Atula.Nhóm Lục Sư
- 105. DhA_235-236-237-238- Con trai ông hàng bò
- 106. DhA_239-243- Bà la môn tuần tự.Ngài Tissa giữ y.Ngài Loludayi dốt pháp.Công tử bị cắm sừng
- 107. DhA_244-248- Tk Culasari tà mạng.5 cận sự nam với 5 giới
- 108. DhA_249-250-251- Vị Sư hay chê.5 cận sự nghe pháp Phật
- 109. DhA_252- Trưởng giả Mendaka
- 110. DhA_253-254-255- Đại đức Ujjhanasanni. Du sĩ Subhadda.
- 111. DhA_256-259- Các quan toà.Nhóm Lục Sư gây rối.Đại đức Ekudana
- 112. DhA_260-263- Đại đức Lakuntaka.Nhiều tỳ khưu tham vọng
- 113. DhA_264-267- Hatthaka trớ trêu. Bà la môn khất sĩ
- 114. DhA_268-272- Ngoại đạo làm thinh.Người dân chài Ariya.Nhiều Tỳ khưu tự mãn
- 115. DhA_273-276- Năm trăm tỳ kheo luận đạo
- 116. DhA_277-280- 500 Tỳ kheo quán vô thường.Quán Khổ.Quán vô ngã. Ngài Tissa nôn tu
- 117. DhA_281-282- Ngạ quỷ heo.Đại đức Pothila
- 118. DhA_283-284-285- các đại đức già. Đệ tử ngài Sariputa
- 119. DhA_286-289- Đại phú thương.nàng Kisagotami.Nàng Patacara
- 120. DhA_290- Hạnh nghiệp của đức Phật
- 121. DhA_291-295- Ăn trứng.Tỳ kheo xứ Bhaddya.Ngài Lakuntaka Bhaddya
- 122. DhA_296-301- Con trai ông Darusakatika
- 123. DhA_302-303-304- Tỳ khưu Vajiputta.Trưởng giả Citta.Nàng Culasubhadda
- 124. DhA_305-308-Ngài Ekavihari.Nàng Sundari.Khổ nhân.các Tỳ kheo sông Vaggumuda
- 125. DhA_309-314- Thanh niên Khemaka.Tỳ kheo đa ngôn.Nữ nhân hờn ghen
- 126. DhA_315-319-Khách Tăng.Chuyện Nigantha.Môn đồ ngoại giáo
- 127. DhA_320-324- Chuyện đức Phật.Một Tăng sĩ.Bà la môn già
- 128. DhA_325-326-327- Vua Pasenadi.Sadi Sanu.Voi Paveraka
- 129. DhA_328-333- các tỳ khưu.Ma vương
Giới thiệu
Chú Giải - Kinh Pháp Cú
Biên soạn- Buddhaghosa
Chuyển ngữ - Trưởng lão Pháp Minh
LỜI GIỚI THIỆU
“ Pháp thí thắng mọi thí”
Thực hành lời dạy trên của Đức Phật, trong những năm qua tại chùa Kỳ Viên, chúng tôi đã mở những lớp giảng dạy Giáo lý căn bản; Phãn ngữ Pali; Vi diệu Pháp Abhidhamma và nhất là những khóa thiền tập Vipassana Minh Sát Tuệ. Song song với những sinh hoạt Phật pháp nói trên, trong điều kiện còn hạn chế, chúng tôi đã cố gắng cho tái bản những quyển kinh quan trọng cần thiết cho việc tu học của chư Tăng và Phật tử như Luật Xuất Gia, Kinh Nhật Tụng của Cư sĩ…
Nhờ hội đủ duyên lành, đến nay chúng tôi mới thực hiện được hoài bão của Ngài Thiền sư Đầu đà PHÁP MINH, bậc Thầy Tổ Pháp Hành khả kính của chúng tôi là cho in thành sách BỘ CHÚ GIẢI KINH PHÁP CÚ tiếng Việt mà Người đã dày công phiên dịch còn sanh tiền.
Trong hoàn cảnh vật chất thật tri túc, thiểu dục một vị tỳ-kheo thọ hạnh Đầu Đà trì bình khất thực, ngăn oai nghi nằm, độc cư giữa đồng vắng tại cốc Bình Thủy và dưới gốc cây Mít Nài tại chùa Bửu Quang, Gò Dưa, Thủ Đức. Người đã phải tận dụng tất cả nội lực từ thể xác đến tinh thần của mình có được do sự khổ luyện hành đạo một cách phi thường hằng đêm, chỉ cùng với vài quyển tập giấy vàng cũ kỹ và ngòi bút mực tím thô sơ, dưới ngọn đèn dầu không đủ sáng đối với đôi mắt đã già đi theo năm tháng vì định luật vô thường chi phối. Người đã hoàn thành dịch phẩm tuyệt tác này. Toàn bộ các tác phẩm biên khảo, tùy bút, abn3 thảo các dịch phẩm đều đực sao chép lại nhiều bổn bằng chính chữ viết tay của Người để phổ biến cho các Phật tử đọc hoặc chép lại, mỗi khi đến thăm viếng và đặt bút cúng dường Người, nhất là nhóm hành giả Minh Sát Khổ và những Phật tử đạt tiêu chuẩn tinh tấn hành thiền 6 giờ đồng hồ trong tư thế kiết già mỗi thời thiền tọa. Vì hạnh nguyện của mình, người đã phải đi bộ với đầu trần chân đất một đoạn đường trên 30 km cả đi lẫn về trong chỉ 1 ngày để mượn bản chú giải kinh Pháp Cú bằng chữ Thái của chùa Từ Quang Gò Vấp về phiên dịch tại Cốc của người ở Thủ Đức.
Với lối văn bình dị trong sáng, mang đậm nét dân tộc VN của một Giáo sư khoa Văn thông suốt nhiều ngoại ngữ Pháp, Anh, Thái, Miên…, người không những đã làm cho các sự tích Pháp Cú Kinh trở nên sống động, dễ hiểu và gần gũi với chúng ta hơn, mặc dù câu chuyện xảy ra trong hoàn cảnh xã hội ở Ấn Độ cách đây hơn 25 thế kỷ, mà còn làm nổi bật hơn nữa những lợi ích tuyệt vời của câu Kệ Phật ngôn như là những khuôn vàng thước ngọc, kim chỉ nam cho chúng ta ứng dụng vào đời sống tu tập hiện tại. Vả cũng chính điều này là một phần động lực thúc đẩy Người hy sinh vượt mọi thử thách để hoàn thành tâm nguyện hoằng dương, Phật Pháp, tự giác giác tha.
Đoàn hậu tấn chúng con chí thành tâm nguyện tu hành tinh tấn và cố gắng tu thành sách toàn bộ những dịch phẩm còn lại ngõ hầu đền đáp phần nào công ơn giáo dưỡng và sự hy sinh cao cả của Người, một bậc chân tu, một tấm gương sáng về Đức Tinh Tấn, Xả ly, Thiểu dục và Hạnh Đầu đà vô song cho Chư Tăng Ni và Tín đồ Phật giáo Nguyên thủy VN.
Bộ CHÚ GIẢI KINH PHÁP CÚ tiếng Việt này được in hoàn chỉnh là do sự giúp đỡ tận tình của nhóm hành giả MINH SÁT KHỔ, các bạn đạo thân thiết xuất gia cũng như Cư sĩ, nhất là anh ĐĨNH đã góp công rất nhiều trong việc cùng chúng tôi đối chiếu lại trong các phần Kệ Pali với bản kinh chữ Thái, và Cư sĩ NGUYÊN TÂM – TRẦN PHƯƠNG LAN,giáo sư phụ trách môn Anh văn thuật ngữ Phật học tại Học Viện Phật giáo VN tp. HCM, đã dịch thuật phần chú thích các ảnh minh họa từ nguyên bản tiếng Anh sang tiếng Việt.
Chân thành cảm tạ và tán thán công đức , xin chia đều phần phước PHÁP THÍ này đến toàn thể chư Đại Đức Tăng và quý Phật tử đã hhun2 phước vào ngân quỹ ấn hành Kinh sách của chùa Kỳ Viên nhất là Đại đức KIM CANG và ông bà KEN and VISAKHA KAWASAKI tại hải ngoại.
Nguyện cho tất cả chúng sanh được an lành
Kỳ Viên tự, mùa An Cư Kiết Hạ
PL. 2541, năm Đinh Sửu 1997
Tỳ- kheo TĂNG ĐỊNH
TIỂU SỬ THIỀN SƯ ĐẦU ĐÀ PHÁP MINH
Ngài Thiền Sư PHÁP MINH thế danh là NGUYỄN VĂN LONG, sinh ngày 15- 3-1918, tại Làng Phước Hải, Huyện Long Đất, Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Thân phụ của Ngài là Cụ NGUYỄN VĂN TÀI, thân mẫu là Bà PHẠM THỊ MINH.
Ngài xuất thân trong một gia đình có tinh thần yêu nước, có truyền thống đạo đức lâu đời, thuộc gia đình trí thức, ngài đậu bằng Diplome (Trung học).
Năm 1965, Ngài xuất gia Sa di với Hòa thượng BỬU CHƠN tại chùa Phổ Minh, Gò Vấp, Gia Định, lúc 10 giờ 30 ngày 7-2, tức tháng 6 Â. L. năm Ất Tỵ.
Ngày 6-1-1968, tại chùa Pháp Bảo, Mỹ Tho, Ngài thọ Đại giới Tỳ kheo với Thầy Tế độ là Hòa thượng GIỚI NGHIÊM.
Sau khi tu tại chùa Phổ Minh một thời gian, Ngài vân du hành đạo tại chùa Phước Hải Vũng Tàu. Sau đó, Ngài đến Tịnh Xá Ngọc Hương, Thủ Dầu Một Năm 1967, Ngài đi hành đạo ở Tịnh Xá An Lạc, Bắc Mỹ Thuận. Cuối năm ấy, Ngài về Tổ Đình Bửu Quang ở Gò Dưa để thực hành pháp môn Đầu đà, độc cư thiền tịnh.
Năm 1968, Ngài rời chùa Bửu Quang đến Núi Nhỏ Vũng Tàu, tìm nơi độc cư thiền định. Năm 1969, Ngài lại trở về Tổ Đình Bửu Quang để tiếp tục sự nghiệp tu hành.
Tháng 12-1974, theo lời thỉnh cầu của Ban Quản Trị Thích Ca Phật Đài Vũng Tàu, Ngài đến khu Thắng Tích để hành đạo và hoằng dương Chánh Pháp.
Từ năm 1975 đến 1976, bước chân Ngài đã vân du đến Tô Châu, Hà Tiên, Rạch Giá.
Năm 1977, 1978, 1979, 1980, Ngài lại trở về Tổ Đình Bửu Quang để thiền định. Từ đó đến nay, Ngài sống Hạnh độc cư, trì bình khất thực tại Cốc Bình Thủy, Gò Dưa, Thủ Đức.
Vào lúc 9 giờ ngày thứ Tư 27 tháng 1 năm 1993 (mùng 5 tháng giêng năm Quý Dậu), Ngài đã an nhiên thị tịch trong khi ngồi thiền định với tư thế kiết già liên hoa tọa.
Từ khi xuất gia cho đến giờ viên tịch, Ngài luôn luôn thực hành pháp hạnh Đầu Đà khất thực, hạnh đầu đà không nằm... Ngài giữ hạnh tri túc, thường ít nhận tứ sự cúng dường của chư Tăng và các Phật tử, Ngài sống vô cùng đơn giản.
Trong thời gian còn sinh tiền, Ngài đã soạn dịch nhiều tác phẩm Kinh điển như:
Bộ Chú Giải Kinh Pháp Cú.
Sưu Tập Kệ Pāli.
Ngài đã trước tác nhiều tác phẩm mà hiện nay vẫn còn là bản thảo, như:
1. Sổ Tức Quan thực tập 1, 2, 3...
2. Cổng vào Niết Bàn.
3. Lâm Tuyền Pháp.
4. Chiến Sĩ Thượng Thặng.
5. Ba cách Làm Phước.
6. Siêu Pháp Tiết Chế Tình Dục.
7. Việc Tập Tâm.
8. Tứ Oai Nghi.
9. Hạnh Nguyện Bồ Tát.
10. Thiền Luận.
11. Tùy Bút Pháp Hành.
12. Kệ Kinh Tam Bảo Pāli...
Ngài thông suốt nhiều ngoại ngữ như Tiếng Pháp, Anh, Thái, Khơmer, Pāli...
Ngài còn là một họa sĩ, nhạc sĩ, thi sĩ, y sĩ... Ngài hiểu biết sâu sắc trong khoa học và nghệ thuật.
Trong thời gian còn sinh tiền, Ngài đã từ bi tế độ cho nhiều hành giả thực hành pháp môn Thiền Quán Minh Sát Khổ có kết quả, nhiều hành giả đã ngồi thiền bảy giờ (07 giờ) liên tục với tư thế Kiết già liên hoa tọa.
Ngài Thiền Sư PHÁP MINH là một trong những vị Cao Tăng, chân tu, thực hành Hạnh Đầu đà vô cùng tinh tấn của Hệ phái Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam. Ngài ra đi nhưng Ngài vẫn còn sống mãi với hình ảnh là một bậc chân tu khả kính, thực hành GIỚI-ĐỊNH-TUỆ, in đậm nét trong tâm trí của toàn thể chư Tăng, Tu nữ và hàng Phật tử gần xa.
Toàn thể Tăng Tín đồ Phật giáo Nguyên Thủy Việt Nam cung kính nghiêng mình trước đạo hạnh Cố Đại Đức Thiền Sư Đầu Đà PHÁP MINH.
Tỳ Khưu BỬU CHÁNH Phụng soạn
___________________
Kính Cáo
Sau mỗi tích chuyện có phần Cẩn đề là những bài kệ vịnh trích ra từ bộ Chú giải Kinh Pháp Cú mới dịch xong trong mùa Hạ kỳ 1984 nầy. Mong rằng các hành giả sơ cơ đang cần học tập, ôn nhuần Kinh Pháp Cú để áp dụng vào đời sống thực tế của mình cho hạp theo Chánh Pháp, sẽ được gợi hứng để có thể hoàn tất sự học cũng như chúng tôi đã hoàn tất sự dịch ra Việt ngữ vậy.
Ngoài ra, với những kệ nầy, quý bạn thức đêm đầu đà có thể bày ra những câu đố về sự tích hoặc căn bản giáo lý chứa đựng trong bộ Pháp Cú mà các Phật tử phương Tây rất quý trọng, nhất là ở Tây Đức.
Nếu mọi người hiểu rành Kinh Pháp Cú và thực hành theo đó thì thế giới có thể hòa bình, an lạc.
Rất mong thay!
Tỳ khưu PHÁP MINH
Bình luận
Hãy là người đầu tiên bình luận
Chưa có bình luận nào về nội dung này. Hãy bắt đầu cuộc trò chuyện!
Thẻ: Chu Giai-Kinh Phap Cu-Buddhaghosa-Truong lao Phap Minh audio, Chu Giai-Kinh Phap Cu-Buddhaghosa-Truong lao Phap Minh - Buddhaghosa audio, free audiobook, free audio book, audioaz